Giải pháp thúc đẩy tăng trưởng xanh ở các đô thị Việt Nam

Những giải pháp này xuất phát từ các bối cảnh chung của các đô thị Việt Nam đang phát triển nhanh và có thể được sử dụng để xác định tầm nhìn và kế hoạch trung và dài hạn ở cấp đô thị.

Ảnh minh họa,  nguồn: Internet

Cùng với các nước đang phát triển ở châu Á, Việt Nam đang trải qua quá trình đô thị hóa nhanh, tạo cơ sở cho tăng trưởng kinh tế. Đô thị hóa và tăng trưởng kinh tế ở Việt Nam mang đến cả cơ hội và thách thức. Các vấn đề môi trường như quản lý tài nguyên nước, xử lý chất thải và ô nhiễm không khí đang ngày càng trầm trọng và phải được khắc phục ở quy mô lớn chưa từng có.

Tuy nhiên, nếu thúc đẩy tăng trưởng xanh (TTX) ở các đô thị có thể đưa quá trình đô thị hóa trở nên bền vững hơn. Bài viết với các đề xuất, giải pháp thúc đẩy TTX ở các đô thị của Việt Nam. Trong đó những  thành tố chính được đề cập là: Tích hợp các hành động ở cấp địa phương vào các giải pháp của Kế hoạch phát triển đô thị TTX đô thị Việt Nam; đổi mới và cụ thể hóa các công cụ chính sách; tài trợ cho TTX đô thị bằng cách giảm nhu cầu tài chính và đa dạng hóa nguồn lực tài chính; tăng cường hợp tác giữa các đô thị và sự tham gia của cộng đồng; đẩy nhanh đầu tư xanh đô thị thông qua hợp tác quốc tế; và cuối cùng là nâng cao năng lực ở tất cả các cấp chính quyền.

Thực trạng đô thị hóa ở Việt Nam

Thế giới đang trải qua giai đoạn có tốc độ đô thị hóa nhanh. Phần lớn tăng trưởng của dân số đô thị thế giới dự kiến ​​sẽ diễn ra ở các nước đang phát triển. Ở châu Á, mức độ đô thị hóa được dự báo sẽ tăng từ 45% vào năm 2011 lên 64,4% vào năm 2050, khi đó sẽ có khoảng 1,4 tỷ người sẽ sống ở các thành phố[1]. Việc lựa chọn các chính sách và giải pháp quản lý quá trình đô thị hóa tăng nhanh của Chính phủ các nước châu Á sẽ tác động trực tiếp đến sự tăng trưởng kinh tế ở khu vực đô thị và các vùng quốc gia.

 Không những thế, các chính sách này cũng có nhiều tác động lớn và lâu dài đối với môi trường tự nhiên và chất lượng cuộc sống của con người không chỉ ở các nước Châu Á mà đang diễn ra trên toàn thế giới.

TTX là thúc đẩy tăng trưởng và phát triển kinh tế, đồng thời đảm bảo rằng các tài sản tự nhiên tiếp tục cung cấp các tài nguyên và dịch vụ môi trường cấu thành chất lượng cuộc sống của con người. Chính vì vậy, ở các thành phố có tốc độ đô thị hóa nhanh, việc thúc đẩy TTX sẽ làm tăng chất lượng và hiệu quả của phát triển và do đó cần được ưu tiên hàng đầu.

Các thành phố châu Á phát triển năng động đang thúc đẩy tăng trưởng kinh tế của mỗi quốc gia đó. Trong hai thập kỷ qua, tốc độ tăng trưởng ở hầu hết các nước châu Á đã ở mức trung bình cao hơn nhiều so với tỷ lệ trung bình của thế giới và của các nước phát triển.

Một loạt các quốc gia hoặc thành phố lớn nằm ở Đông Nam, Đông và Nam Á đang có tốc độ tăng trưởng kinh tế và đô thị nhanh chóng. Đặc biệt là các thành phố trong mười nước ASEAN (Brunei, Campuchia, Indonesia, Lào, Malaysia, Myanmar, Philippines, Singapore, Thái Lan, Việt Nam), Trung Quốc và Ấn Độ.

Ở Việt Nam, quá trình đô thị hóa cũng đã góp phần thúc đẩy sự tăng trưởng của nền kinh tế. Từ một trong những nước nghèo nhất trên thế giới trong những năm 1980, Việt Nam đã thành một quốc gia có thu nhập trung bình với các chỉ số xã hội quan trọng tương đương với các nước có thu nhập cao hơn.

 Nhờ tác động của tăng trưởng kinh tế, trong gần 20 năm qua, hệ thống đô thị đã có nhiều chuyển biến rất tích cực. Tỷ lệ đô thị hóa tăng từ 23,7% năm 1999 lên 37,4% năm 2018. Khu vực đô thị đóng góp trên một nửa GDP của cả nước. Tuy nhiên, đô thị hóa nhanh đã dẫn đến một số bất cập, gây ra tác động tiêu cực đến chất lượng cuộc sống của người dân và sản lượng kinh tế của khu vực đô thị nói riêng và cả nước nói chung.

Thực tiễn quản lý phát triển đô thị Việt Nam đang bộc lộ nhiều vấn đề mà nếu không giải quyết được trong giai đoạn trung hạn sắp tới, sẽ rất khó giải quyết trong dài hạn Các vấn đề mà hệ thống đô thị của Việt Nam đang gặp có nhiều tương đồng với đô thị của nhiều nước đang phát triển châu Á, nhưng ở nhiều khía cạnh có mức độ phức tạp hơn. Đó là sự gia tăng nhanh chóng của dân số đô thị hình thành các đô thị cực lớn và vùng đô thị lớn thiếu kiểm soát; hạ tầng đô thị không đầy đủ, thiếu kết nối, khiến chất lượng cuộc sống người dân chưa cao; hiệu quả kinh tế - xã hội của các dự án đầu tư không cao, chưa tạo được động lực tăng trưởng chung cho vùng đô thị; môi trường đô thị ô nhiễm, xuống cấp nhanh, khó khắc phục; mô hình quản lý đô thị không theo kịp với thực tế cuộc sống.

 Bên cạnh đó, Việt Nam là một trong những nước sẽ chịu ảnh hưởng nhiều nhất của biến đổi khí hậu đang làm sâu sắc hơn các bất cập hiện tại và tạo ra thách thức mới cho quá trình đô thị hóa.

Việt Nam đang đứng trước bước ngoặt của cải cách và phát triển. Thời cơ và thuận lợi rất lớn, nhưng thách thức và khó khăn cũng không nhỏ. Để thực hiện khát vọng mục tiêu đến năm 2035 sẽ trở thành một nước công nghiệp hiện đại, có thu nhập trung bình cao với mức tăng trưởng tối thiểu 7% mỗi năm, nâng mức thu nhập trung bình lên trên 7.000 USD vào năm 2035.

Việt Nam cần quản lý tốt quá trình đô thị hóa để đẩy mạnh hiện đại hóa và công nghiệp hóa. Với hiệu ứng kinh tế tích cực do tập trung dân cư, các đô thị sẽ làm tăng năng suất, đẩy mạnh đổi mới sáng tạo và đa dạng hóa các hoạt động kinh tế.

Những xu hướng đô thị hóa và tăng trưởng kinh tế ở Việt Nam mang đến cả cơ hội và thách thức. Các vấn đề môi trường như quản lý tài nguyên nước, xử lý chất thải và ô nhiễm không khí đang ngày càng trầm trọng và phải được khắc phục ở quy mô lớn chưa từng có.

Tuy nhiên, cũng sẽ có những cơ hội nếu biết lựa chọn hình thái đô thị và cơ sở hạ tầng đô thị phù hợp để vừa thúc đẩy tăng trưởng kinh tế một cách hiệu quả vừa tác động tích cực đến môi trường. Các chính sách môi trường hiệu quả có thể tốt cho tăng trưởng đô thị, vì chúng nâng cao sức hấp dẫn của các thành phố. Hơn nữa, tại một số khu vực thành phố đang phát triển nhanh, việc tạo ra khu đô thị hoàn toàn mới sẽ mở ra cơ hội xây dựng cơ sở hạ tầng xanh ngay từ đầu, như hệ thống nhà ở, hệ thống giao thông và nước sạch, tiết kiệm năng lượng hơn.

Thông thường, xây dựng các khu đô thị mới và xanh sẽ dễ dàng và rẻ hơn so với cải tạo, tái phát triển các khu vực hiện hữu, nơi sẽ rất tốn kém và có thể gặp phải sự phản đối do không tìm được tiếng nói chung trong khâu đền bù giải phóng mặt bằng hay chia sẻ lợi ích.

Là một quốc gia đang phát triển, các đô thị Việt Nam có tiềm năng để giải quyết các cơ hội và thách thức như vậy. Chính quyền các đô thị nắm rõ nhất nhu cầu của người dân, có hiểu biết cụ thể nhất về các điều kiện địa phương và có thể thử nghiệm, điều chỉnh các ý tưởng TTX tại địa phương tạo điều kiện cho các chính sách TTX đô thị thành công ở cấp quốc gia. Tuy nhiên, sự phối hợp của các bộ ngành cũng đóng một vai trò quan trọng trong việc cho phép các đô thị nhận ra tiềm năng này.

Ngoài ra, trong bối cảnh phát triển, các nhà tài trợ quốc tế, có xu hướng tìm đến các Chính phủ quốc gia theo khuôn khổ quy hoạch phát triển quốc gia, chưa đánh giá đầy đủ vai trò của các đô thị. Do đó, cần có những giải pháp thúc đẩy tương tác giữa các Bộ Ngành và các đô thị trong thực hiện Kế hoạch phát triển đô thị TTX đô thị Việt Nam đến năm 2030[2] và đưa ra giải pháp để các thành phố có thể đạt được TTX ở từng khía cạnh phù hợp.

Ảnh minh họa, nguồn: Internet

Đặc thù của các đô thị Việt Nam

Các kết quả nghiên cứu và thực hành ở đô thị của các nước cho thấy nhiều mối liên hệ đầy hứa hẹn giữa TTX và hiệu quả trong tạo việc làm, thu hút đầu tư, đổi mới và khởi nghiệp, tăng giá trị đất đai đô thị. Khi so sánh các khía cạnh quan trọng của đô thị Việt Nam với hầu hết các thành phố của các nền kinh tế mới nổi châu Á, có thể thấy một số đặc thù của các đô thị Việt Nam:

- Các đô thị Việt Nam đang phát triển với tốc độ nhanh, do kết quả của quá trình di cư từ nông thôn đến thành thị, quy hoạch đô thị thường nhanh chóng lạc hậu, chậm được cập nhật, gây khó khăn cho việc phát triển cơ sở hạ tầng đô thị.

- Các đô thị Việt Nam thường có ít nguồn lực, với sự chênh lệch lớn về thu nhập, trình độ học vấn và cơ hội việc làm trong dân số thành thị.

- Tăng trưởng công nghiệp ở các đô thị Việt Nam khá nhanh. Theo cơ sở dữ liệu thống kê của ADB, trong gần 10 năm qua, tỷ trọng tổng sản lượng GDP của ngành công nghiệp tại Việt Nam từ 28,8% đến 37,9%. Trong khi đó, ở Philippines là từ 32,1% đến 31,3%, Malaysia (40,5% đến 40,7%), Indonesia (từ 41,8% đến 47,1%) và Thái Lan (37,6% đến 38,2%). Tăng trưởng công nghiệp đang dẫn đến việc tăng nhanh tiêu thụ năng lượng và khí thải nhà kính (GHG), cũng như tạo ra các vấn đề phức tạp vềmôi trường.

- Tăng trưởng dân số đô thị nhanh tạo gánh năng đối với việc cung cấp nhà ở và dịch vụ. Theo Tổng điều tra dân số 2019, trong 10 năm 2009 – 2019, dân số đô thị Việt Nam tăng bình quân 2,62%/năm. So sánh với tốc độ tăng dân số đô thị Đông Nam Á và Nam Á Nam dự kiến ​​sẽ tăng 2% và 2,3% một năm trong khoảng thời gian từ 2010 đến 2030, và lần lượt là 1,2% và 1,8% mỗi năm từ 2030 đến 2050; Tây Âu và Bắc Mỹ lần lượt là 0,4% và 1% trong khoảng thời gian từ 2010 đến 2030, và 0,2% và 0,7% trong khoảng thời gian từ 2030 đến 2050 (UN DESA, 2012). Về cấu trúc tuổi, độ tuổi trung bình ở Việt Nam nói riêng (28,5 tuổi) và các nước châu Á thấp hơn nhiều so với tuổi trung bình ở các nước phát triển (thành viên OECD), nhưng được dự báo sẽ tăng đáng kể trong một vài thập kỷ, từ 25,8 năm 2010 đến 39,8 năm vào năm 2050 (UN DESA, 2012). Điều này phản ánh sự sụt giảm dự kiến ​​về tỷ lệ dân số dưới 15 tuổi (30% vào năm 2000 và 19% vào năm 2050) và sự gia tăng tỷ lệ của những người từ 65 tuổi trở lên (6% vào năm 2000 và 18% vào năm 2050).

- Nhiều thành phố ở Việt Nam đã và đang phải đối mặt với các ảnh hưởng của biến đổi khí hậu và các rủi ro môi trường và cần khẩn trương hơn để thích ứng với biến đổi khí hậu. Nhìn chung, dự kiến ​​các tác động của biến đổi khí hậu sẽ nghiêm trọng hơn. Các thành phố Việt Nam (nhất là ở khu vực Đồng bằng Bắc Bộ và Đồng bằng Sông Cửu Long) sẽ ngày càng dễ bị lũ lụt (về mức độ phơi nhiễm của dân số và tài sản) do rủi ro mực nước biển do biến đổi khí hậu, dự báo thay đổi kinh tế xã hội và sụt lún tự nhiên và do con người gây ra.

Điều này đòi hỏi một mô hình TTX đô thị có tính đến hoàn cảnh cụ thể của các thành phố Việt Nam.

Giải pháp thúc đẩy thực hiện Kế hoạch phát triển đô thị TTX đô thị Việt Nam đến 2030

Kế hoạch phát triển đô thị tăng trưởng xanh đô thị Việt Nam đến năm 2030 đã tính đến: i) các điều kiện cơ bản cụ thể ở các thành phố Việt Nam đang phát triển nhanh, khác biệt ở một số điểm so với các thành phố ở các nước phát triển; ii) các chiến lược chính cho TTX đô thị xuất phát từ các điều kiện tiên quyết này; iii) lĩnh vực mà các chiến lược đó nên được hướng tới; và iv) chiến lược cho phép các thành phố Việt Nam đang phát triển nhanh vượt qua những trở ngại thực hiện. Kế hoạch phát triển đô thị tăng trưởng xanh đô thị Việt Nam đã tích hợp các yếu tố này trong bối cảnh chính sách của Việt Nam năng động sẽ giúp đạt được TTX đô thị.

Kế hoạch phát triển đô thị TTX đô thị Việt Nam sẽ giúp kết nối chính sách phát triển kinh tế và chính sách đô thị hóa của các thành phố với các chính sách TTX đô thị, các đòn bẩy thực hiện quan trọng ở các thành phố và kết quả mong muốn của các chiến lược và chính sách theo nhu cầu của các thành phố này. Như Kế hoạch cho thấy, các giải pháp chính được đưa ra để đạt được TTX đô thị: thúc đẩy khả năng phục hồi của đô thị, giải quyết nghèo đói và công bằng xã hội, theo đuổi các mục tiêu phát triển kinh tế dài hạn trong khi đạt được lợi ích ngắn hạn, áp dụng chiến lược cơ sở hạ tầng xanh chủ động để theo kịp tốc độ phát triển và gắn kết các hành động môi trường với tăng trưởng kinh tế.

Những giải pháp này xuất phát từ các bối cảnh chung của các đô thị Việt Nam đang phát triển nhanh và có thể được sử dụng để xác định tầm nhìn và kế hoạch trung và dài hạn ở cấp đô thị. Những kế hoạch và tầm nhìn này có thể được sử dụng để định hình các hành động trong các lĩnh vực hoặc chính sách cụ thể với những thách thức lớn nhưng trên hết là những cơ hội tuyệt vời cho TTX.

Các lĩnh vực cơ hội là: năng lượng, sử dụng đất và giao thông, nhà ở và các công trình công cộng, quản lý tài nguyên nước, quản lý chất thải rắn, và hàng hóa và dịch vụ xanh. Để đạt được TTX đô thị đòi hỏi những nỗ lực liên quan đến một số hoặc tất cả các khu vực cần liên kết chặt chẽ. Trong đó, điều quan trọng là sự phối hợp và bổ sung dễ dàng được điều chỉnh hơn ở cấp đô thị.

Để đảm bảo rằng các giải pháp thực hiện của Kế hoạch phát triển đô thị tăng trưởng xanh đô thị Việt Nam trở thành hành động cụ thể và hiệu quả, UBND tỉnh và UBND các đô thị phải song song giải quyết một số điểm yếu thông qua các chiến lược cụ thể: tích hợp các hành động ở cấp địa phương vào các giải pháp của Kế hoạch phát triển đô thị TTX đô thị Việt Nam; đổi mới và cụ thể hóa các công cụ chính sách; tài trợ cho TTX đô thị bằng cách giảm nhu cầu tài chính và đa dạng hóa nguồn lực tài chính; tăng cường hợp tác giữa các đô thị và sự tham gia của cộng đồng; đẩy nhanh đầu tư xanh đô thị thông qua hợp tác quốc tế; và cuối cùng là nâng cao năng lực ở tất cả các cấp chính quyền.

Mục tiêu là thực hiện đầy đủ các giải pháp TTX đô thị đề ra trong Kế hoạch, nhất là Thông tư 01/2018/TT-BXD của Bộ Xây dựng quy định về chỉ tiêu xây dựng đô thị tăng trưởng xanh. Nếu việc thực hiện các giải pháp trên được thường xuyên cập nhật theo bối cảnh cụ thể của từng đô thị sẽ đáp ứng nhu cầu về tiêu thụ tài nguyên thiên nhiên hiệu quả, giảm ô nhiễm cục bộ, thích ứng và giảm thiểu biến đổi khí hậu, hài hòa các yếu tố kinh tế, xã hội và môi trường.

PGS. TS. Hoàng Vĩnh Hưng

Tài liệu tham khảo

1. OECD, 2015. Cities and Green Growth; 2. Quyết định số 84/QĐ-TTg ngày 19 tháng 01 năm 2018 của Thủ tướng Chính phủ phê duyệt Kế hoạch phát triển đô thị tăng trưởng xanh đô thị Việt Nam đến năm 2030.

[1] So sánh, mức độ đô thị hóa ở Bắc Mỹ sẽ tăng dưới 10% lên khoảng 89% vào năm 2050, nhưng vẫn sẽ cao hơn châu Á hơn 24%

[2] Quyết định số 84/QĐ-TTg ngày 19 tháng 01 năm 2018 của Thủ tướng Chính phủ

Bình luận
Ý kiến chuyên gia
Video
Thư viện ảnh
Tin tức nổi bật